Tác giả:
Nguyễn Huyền Anh – Luật sư
Hồ Thanh Quang – Chuyên viên pháp lý

1. Khái quát thỏa thuận trọng tài
Trọng tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến hiện nay nhờ thủ tục linh hoạt, nhanh chóng (thường chỉ qua một cấp xét xử), tính bảo mật cao và khả năng lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn phù hợp. Khi tranh chấp phát sinh, thỏa thuận trọng tài là cơ sở để bắt đầu tố tụng trọng tài. Khác với tố tụng tại Tòa án, nơi cơ quan xét xử vẫn có thẩm quyền giải quyết dù các bên không có thỏa thuận trước, trọng tài chỉ có thẩm quyền khi các bên tự do và tự nguyện thỏa thuận lựa chọn phương thức này.
Về bản chất, thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên trong việc lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Về hình thức, theo Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới dạng điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng, và phải được thể hiện bằng văn bản. Văn bản này có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như trao đổi qua email, fax, thư từ, dẫn chiếu trong hợp đồng hoặc tài liệu liên quan, hoặc được thể hiện thông qua việc trao đổi đơn kiện và bản tự bảo vệ mà một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Quy định này cho thấy pháp luật thừa nhận tính linh hoạt về hình thức của thỏa thuận trọng tài, nhằm tạo thuận lợi cho các bên khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp này.
2. Các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Theo quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định Thỏa thuận trọng tài vô hiệu nếu thuộc các trường hợp sau:
(i) Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định thẩm quyền của Trọng tài thương mại phát sinh trong các lĩnh vực gồm: a) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; b) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại và c) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Như vậy, không phải mọi tranh chấp đều có thể được giải quyết bằng trọng tài. Chỉ những tranh chấp thuộc các trường hợp nêu trên mới nằm trong phạm vi thẩm quyền của trọng tài. Trong trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài đối với tranh chấp không thuộc các nhóm này, thỏa thuận trọng tài có thể bị coi là vô hiệu.
(ii) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP quy định trường hợp người xác lập không có thẩm quyền khi người đó không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.
Mặc dù vậy, không phải mặc nhiên người không có thẩm quyền xác lập thì Thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Trường hợp Thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài, người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.
(iii) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự[1].
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự[2].
Như vậy, đối với các Thỏa thuận được xác lập bởi người chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không có hiệu lực.
(iv) Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật Trọng tài thương mại 2010
Theo Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới hình thức văn bản. Hình thức này có thể được thể hiện dưới nhiều dạng như: điều khoản trọng tài trong hợp đồng, thỏa thuận riêng bằng văn bản, trao đổi qua thư, fax, email hoặc các hình thức khác theo đó nội dung thỏa thuận được ghi nhận rõ ràng.
Trong trường hợp thỏa thuận trọng tài không được xác lập dưới các hình thức nêu trên hoặc không thể chứng minh được sự tồn tại của thỏa thuận bằng văn bản, thỏa thuận trọng tài có thể bị coi là không đáp ứng điều kiện về hình thức và bị tuyên vô hiệu theo quy định của pháp luật.
(v) Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
Về nguyên tắc Thỏa thuận trọng tài là một sự thống nhất ý chí trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận. Vì vậy, với bất kỳ hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép nào trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài, một bên có quyền yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Tại Điều 127 Bộ luật Dân sự cũng giải thích cụ thể cách hiểu các trường hợp này như sau:
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
(vi) Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
Đây là trường hợp Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật được dẫn chiếu đến Điều 128 Bộ luật Dân sự 2005 (thời điểm ban hành Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP)[3]. Tuy nhiên khi dẫn chiếu đến pháp luật hiện hành là Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 thì điều khoản này có thể có sự khác biệt khá lớn khi Thỏa thuận trọng tài sẽ chỉ bị vô hiệu khi vi phạm điều cấm của “Luật” thay vì “Pháp luật” như trước kia. Đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 thì Pháp luật sẽ bao hàm hết tất cả các văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 4 của luật, trong khi đó Luật sẽ chỉ bao gồm “Bộ luật, Luật, Nghị quyết của Quốc hội”.
Sự điều chỉnh trên làm thu hẹp các trường hợp làm vô hiệu thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, sự khác biệt về thuật ngữ pháp lý giữa “luật” và “pháp luật” cũng có thể dẫn đến những cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, đặc biệt khi các quy định liên quan vẫn được viện dẫn từ các văn bản ban hành trước thời điểm Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực.
3. Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Mặc dù không thuộc các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, trong một số trường hợp nhất định, thỏa thuận trọng tài vẫn có thể không thể thực hiện được. Khi đó, mặc dù thỏa thuận trọng tài vẫn tồn tại về mặt hình thức, nhưng việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không thể tiến hành trên thực tế.
Các trường hợp cụ thể bao gồm: (i) Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận chấm dứt hoạt động, không có tổ chức kế thừa và các bên không thống nhất được Trung tâm khác; (ii) Trọng tài viên vụ việc đã được chỉ định nhưng không thể tham gia do bất khả kháng/trở ngại khách quan, không thể tìm được người thay thế và các bên không thỏa thuận được Trọng tài viên khác; (iii) Trọng tài viên được chọn từ chối hoặc bị từ chối chỉ định và các bên không thống nhất được người thay thế; (iv) Các bên thỏa thuận giải quyết tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại chọn Quy tắc tố tụng của Trung tâm khác, trong khi điều lệ không cho phép và các bên không thống nhất được quy tắc thay thế; (v) Điều khoản trọng tài nằm trong điều kiện giao dịch chung do nhà cung cấp soạn sẵn, nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý giải quyết bằng trọng tài.
4. Nguyên nhân phổ biến và cách doanh nghiệp phòng tránh rủi ro
Trên thực tế, có một số vấn đề mà doanh nghiệp hay gặp phải khi ghi nhận Thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng với đối tác, khách hàng dễ dẫn đến vô hiệu điều khoản này như sau:
Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài đối với các tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài
Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, trên thực tế, một số doanh nghiệp vẫn đưa điều khoản trọng tài vào các quan hệ pháp lý không thuộc phạm vi này, đặc biệt là trong các quan hệ dân sự thuần túy. Việc hiểu chưa chính xác phạm vi thẩm quyền của trọng tài có thể dẫn đến nguy cơ thỏa thuận trọng tài bị tuyên vô hiệu khi phát sinh tranh chấp.
- Giải pháp:
Để hạn chế rủi ro thỏa thuận trọng tài bị tuyên vô hiệu do tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài, doanh nghiệp cần xác định rõ tính chất pháp lý của quan hệ tranh chấp trước khi đưa điều khoản trọng tài vào hợp đồng. Theo đó, điều khoản trọng tài nên được áp dụng chủ yếu đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc các tranh chấp có yếu tố thương mại, trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên tham vấn ý kiến tư vấn pháp lý khi xây dựng điều khoản giải quyết tranh chấp, nhằm bảo đảm điều khoản trọng tài được thiết kế phù hợp với phạm vi thẩm quyền của trọng tài và tránh nguy cơ bị tuyên vô hiệu khi tranh chấp phát sinh.
Thứ hai, người xác lập Thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền
Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Trên thực tế, một số doanh nghiệp ký kết hợp đồng với đối tác và khách hàng nhưng không tiến hành kiểm tra người đại diện pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của đối tác một cách kỹ lưỡng.
- Giải pháp:
Khi giao kết hợp đồng, doanh nghiệp cần kiểm tra cụ thể thông tin người đại diện theo pháp luật của đối tác, khách hàng. Trong trường hợp đại diện theo ủy quyền, cần yêu cầu họ cung cấp thêm Giấy ủy quyền để làm cơ sở đối chiếu, xem xét phạm vi và thời hạn ủy quyền.
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài không cụ thể hoặc không thể thực hiện được
Hiện nay, khi thỏa thuận về điều khoản giải quyết tranh chấp, có nhiều trường hợp ghi nhận như sau “Tranh chấp trong hợp đồng này được giải quyết bằng hình thức trọng tài. Địa điểm giải quyết Thành phố Hồ Chí Minh. Pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam”. Có thể thấy, điều khoản này không thỏa thuận rõ cụ thể Trung tâm trọng tài cũng như Quy tắc tố tụng được áp dụng. Điều này sẽ bị rơi vào trường hợp Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được như đã đề cập ở phía trên.
- Giải pháp:
Doanh nghiệp nên sử dụng các điều khoản mẫu của các tổ chức trọng tài uy tín. Ví dụ, mẫu điều khoản của Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC):
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Phía Nam (STAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.”[4] Điều khoản này về cơ bản đã đáp ứng đầy đủ thành tố cấu thành một Thỏa thuận trọng tài. Trong trường hợp cụ thể, các bên có thể bổ sung thêm các điều khoản liên quan đến: địa điểm giải quyết tranh chấp, số lượng trọng tài viên, luật áp dụng, ngôn ngữ trọng tài,…
Tóm lại, thỏa thuận trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên, nếu điều khoản này được xây dựng không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc thiếu sự rõ ràng cần thiết, doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro thỏa thuận trọng tài bị tuyên vô hiệu hoặc không thể thực hiện được khi tranh chấp phát sinh. Vì vậy, việc soạn thảo điều khoản trọng tài một cách chính xác, rõ ràng và phù hợp với quy định pháp luật ngay từ giai đoạn giao kết hợp đồng là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý và bảo đảm hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
[1] Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015
[2] Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015
[3] Khoản 6 Điều 3 Nghị định 01/2014/NĐ-CP
[4] https://stac.com.vn/dieu-khoan-trong-tai-mau/
Thời gian viết bài: 10/03/2026
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
- Quy định pháp luật liên quan đến chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự
- Điều kiện cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện cho thương nhân nước ngoài tại Việt nam
- Đóng cửa Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
- Luật TMĐT 2025: Những nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp quản lý nền tảng từ tháng 7/2026
