Tác giả:
- Nguyễn Thị Huyền Anh – Luật sư
- Lê Hồng Đăng – Chuyên viên pháp lý
Theo quy định tại Điều 317 Luật Thương mại 2005, tranh chấp thương mại có thể được giải quyết thông qua bốn phương thức, bao gồm: thương lượng giữa các bên, hòa giải thông qua bên trung gian, giải quyết tại trọng tài thương mại và giải quyết tại Tòa án. Trong đó, trọng tài thương mại ngày càng được các chủ thể kinh doanh lựa chọn nhờ tính linh hoạt, tính bảo mật và khả năng bảo đảm tính độc lập trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Bài viết phân tích các điều kiện để phán quyết của Trọng tài thương mại nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, làm rõ các yêu cầu về thẩm quyền của trọng tài, tính hợp lệ của thỏa thuận trọng tài, trình tự thủ tục tố tụng, cũng như các căn cứ để Tòa án Việt Nam từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài.

1. Khái quát về Trọng tài thương mại và phán quyết trọng tài
Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Theo đó. các bên thỏa thuận giải quyết vụ việc thông qua Hội đồng trọng tài do chính mình lựa chọn. Phương thức này được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia cũng như trong các điều ước quốc tế và ngày càng được các chủ thể kinh doanh lựa chọn nhờ tính linh hoạt, bảo mật và khả năng bảo đảm tính trung lập trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phán quyết trọng tài. Phán quyết trọng tài là quyết định do Hội đồng trọng tài ban hành nhằm giải quyết toàn bộ hoặc một phần nội dung tranh chấp giữa các bên. Theo quy định của pháp luật về trọng tài, phán quyết trọng tài có tính chung thẩm[1] và có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp.
Bên cạnh phán quyết của trọng tài trong nước, pháp luật Việt Nam còn ghi nhận khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài. Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”): Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn. Việc công nhận và cho thi hành các phán quyết này tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2. Điều kiện để phán quyết của Trọng tài thương mại nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Theo quy định của Khoản 1 Điều 424 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành khi đáp ứng một số điều kiện nhất định, cụ thể[2]:
“1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
- a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
- b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.”
Quy định tại Điều 424 nêu trên xác định cơ sở để Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Cơ chế này được xem là một công cụ pháp lý nhằm bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Việt Nam trong quan hệ pháp lý quốc tế, đồng thời bảo đảm sự bình đẳng trong việc áp dụng và thực thi pháp luật giữa các quốc gia.
Để phán quyết được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải thực hiện thủ tục yêu cầu tại Tòa án Việt Nam. Cụ thể, tại Điều 425 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định:
“1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
- Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
- Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.”
3. Thời hạn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam
Sau khi đảm bảo các điều kiện tại Mục 2, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam để Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết trong thời hạn 03 năm kể từ ngày phán quyết có hiệu lực pháp luật[3].
Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn 03 năm nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Quy định về thời hạn 03 năm để yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam nhằm bảo đảm quyền yêu cầu của người được thi hành, đồng thời tạo sự ổn định trong quan hệ pháp lý sau khi phán quyết đã có hiệu lực. Việc pháp luật cho phép không tính vào thời hạn đối với khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền yêu cầu hợp pháp của đương sự, bảo đảm rằng việc hết thời hạn không xảy ra trong trường hợp họ không thể thực hiện quyền của mình vì những lý do ngoài ý chí. Đồng thời, quy định này cũng tạo cơ sở pháp lý để Tòa án xem xét linh hoạt nhưng vẫn trong khuôn khổ luật định khi thụ lý yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài.
4. Các trường hợp không được công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam
Bên cạnh việc quy định các điều kiện để phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định những trường hợp Tòa án Việt Nam có thể từ chối công nhận và cho thi hành các phán quyết này. Theo Điều 459, Tòa án có thể không công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài khi:
(i) Thỏa thuận trọng tài giữa các bên không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;
(ii) Các bên không có đủ năng lực để xác lập thỏa thuận đó theo pháp luật áp dụng.
(iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;
(iv) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
(v) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;
(vi) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;
(vii) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.
Ngoài các căn cứ nêu trên do bên phải thi hành viện dẫn, Tòa án Việt Nam còn có quyền chủ động xem xét và từ chối công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài trong trường hợp tranh chấp theo pháp luật Việt Nam không thuộc phạm vi được giải quyết bằng trọng tài, hoặc việc công nhận và cho thi hành phán quyết đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Những quy định này nhằm bảo đảm rằng việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện phù hợp với trật tự pháp lý quốc gia, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Tóm lại, việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được đặt trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa việc tôn trọng cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và việc bảo vệ trật tự pháp lý quốc gia. Các trường hợp không được công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thể hiện vai trò kiểm soát của Tòa án Việt Nam trong việc xem xét tính hợp pháp, tính công bằng của quá trình tố tụng trọng tài cũng như sự phù hợp của phán quyết với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Cơ chế này góp phần tạo dựng niềm tin cho các chủ thể tham gia quan hệ thương mại quốc tế, đồng thời khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tuân thủ các chuẩn mực pháp lý quốc tế về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
[1] Điều 4 Luật TTTM 2010
[3] Điều 451 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Thời gian viết bài: 12/03/2026
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
-
- Tác Động Pháp Lý Từ Việc Thu Hẹp Phạm Vi Dự Án Phải Chấp Thuận Chủ Trương Đầu Tư Theo Luật Đầu Tư 2025
- Bức Tranh Mới Về Ngành, Nghề Đầu Tư Kinh Doanh Có Điều Kiện Từ Năm 2026: Cắt Giảm Và Chuyển Đổi
- Thủ Tục Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài: Cấp Giấy Phép Doanh Nghiệp (ERC) Trước, Giấy Phép Đầu Tư (IRC) Sau
- Khi Nào Thì Doanh Nghiệp Áp Dụng Tạm Đình Chỉ Công Việc Người Lao Động?
