Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp tại Việt Nam đang ngày càng chú trọng đến việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp sao cho hiệu quả, bảo mật và phù hợp với đặc thù kinh doanh. Giữa hai cơ chế pháp lý phổ biến hiện nay – tố tụng trọng tài và tố tụng tại Tòa án – sự khác biệt không chỉ nằm ở thủ tục tiến hành mà còn phản ánh những triết lý pháp lý khác nhau về cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong tranh chấp dân sự, thương mại. Việc hiểu rõ sự khác biệt này không chỉ giúp doanh nghiệp đưa ra lựa chọn chiến lược phù hợp, mà còn góp phần hạn chế rủi ro pháp lý trong dài hạn. Bài viết dưới đây sẽ chia sẻ cụ thể hơn về điều này.

1. Bản chất pháp lý
Một trong những điểm phân biệt mang tính căn cơ giữa phương thức tố tụng trọng tài và tố tụng tại Tòa án chính là bản chất pháp lý của hai cơ chế này. Trọng tài thương mại, về mặt nguyên lý, là một hình thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán nhưng không xuất phát từ quyền lực công quyền. Đây là một thiết chế tài phán phi nhà nước, vận hành trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên – tức là quyền tự định đoạt về mặt pháp lý trong quan hệ dân sự và thương mại được luật pháp thừa nhận.
Ngược lại, Tòa án là cơ quan xét xử thuộc hệ thống quyền lực nhà nước, hoạt động trên cơ sở quyền tài phán được Hiến pháp và pháp luật quy định. Khi Tòa án đưa ra phán quyết, đó là sự hiện thân của quyền lực công – tức là nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong thực tiễn, với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, Trọng tài ngày càng trở thành lựa chọn ưu tiên trong các giao dịch thương mại xuyên biên giới. Tuy nhiên, không vì thế mà vai trò của Tòa án bị lu mờ. Trái lại, sự hiện diện của quyền tài phán nhà nước thông qua hệ thống Tòa án vẫn giữ vai trò nền tảng, đặc biệt trong những tranh chấp mang yếu tố công hoặc những trường hợp cần thiết phải có sự bảo hộ quyền lực công để bảo đảm tính cưỡng hành. Đây chính là sự song hành và bổ sung lẫn nhau giữa hai cơ chế tài phán, phản ánh đặc trưng của một hệ thống pháp lý hiện đại và đa dạng hóa công cụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong nền kinh tế thị trường.
2. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Trọng tài thương mại là mô hình có quy định pháp luật điều chỉnh riêng đồng thời có quy chế hoạt động riêng được các Trung tâm trọng tài tự ban hành đảm tính linh hoạt và phù hợp quy định pháp luật. Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp: (1) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (2) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (3) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
So với Trọng tài thương mại, Tòa án có phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp rộng hơn. Theo đó, ngoài các tranh chấp thương mại, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về dân sự hôn nhân gia đình, thừa kế tài sản…, và cả các vụ án hình sự (Điều 26, Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự, Bộ luật tố tụng Hình sự 2015).
3. Cơ sở để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài với điều kiện các bên có thỏa thuận trọng tài, theo đó phương thức giải quyết bằng trọng tài chỉ được áp dụng khi có sự đồng thuận của các bên. Việc thỏa thuận này có thể được xác lập trong hợp đồng hoặc hình thức thỏa thuận riêng và phải được biểu hiện bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
Trong khi đó, cơ sở để áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án không dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên mà được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời được thể chế hóa cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 4, Điều 186 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 là cơ sở xác định quyền khởi kiện tại Tòa án của bất kỳ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Đây được xem là một trong những khác biệt cơ bản của hai phương thức giải quyết tranh chấp.
4. Điểm khác biệt trong quá trình tố tụng
Theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, thủ tục tố tụng giả quyết tranh chấp có yếu tố kinh doanh thương mại tại Tòa án được quy định chặt chẽ, bao gồm các giai đoạn: nộp đơn khởi kiện, xét đơn, thụ lý vụ án, mở phiên họp hòa giải và công khai tài liệu chứng cứ, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, và có thể giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Quy trình này mang tính nghi thức, phức tạp, và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật tại Bộ luật tố tụng dân sự. Trong khi đó, việc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài mang tính chất linh hoạt hơn, cụ thể:
- Quá trình tố tụng tại Tòa án bắt buộc phải thông qua các phiên họp hòa giải công khai tài liệu chứng cứ trước khi tổ chức phiên xét xử. Trong khi đó, tố tụng Trọng tài không quy định bắt buộc tổ chức các phiên hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ trước khi tổ chức các “phiên họp giải quyết tranh chấp”.
- Do bản chất linh hoạt, với phương thức tố tụng Trọng tài, đương sự có thể yêu cầu Trung tâm trọng tài gửi tài liệu chứng cứ thông qua email – hình thức tống đạt tài liệu, chứng cú không được sử dụng trên thực tế khi các bên khởi kiện tại Tòa án.
- Về căn cứ thực hiện thủ tục tố tụng: tố tụng tòa Án áp dụng trên cơ sở quy định pháp luật tại Bộ luật tố tụng dân sự. Trong khi đó luật Trọng tài thương mại áp dụng Luật Trọng tài Thương mại 2010 kết hợp Quy tắc tố tụng do trung tâm trọng tài ban hành.
- Phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm và có giá trị áp dụng trừ trường hợp bị Tòa án hủy phán quyết Trọng tài.
- Ngoài ra, trong tố tụng Trọng tài, các bên có quyền lựa chọn Hội đồng trọng tài với các trọng tài viên có kinh nghiệm, hoạt động trong lĩnh vực phù hợp với tính chất của tranh chấp. Trong khi trong tố tụng Tòa, các bên tranh chấp hoàn toàn không có quyền lựa chọn Thẩm phán giải quyết tranh chấp, thay vào đó thành phần Hội đồng xét xử được chỉ định bởi Chánh án Tòa án có thẩm quyền.
5. Chi phí và thời gian giải quyết
Trong tố tụng tại Tòa án, căn cứ để tính án phí và lệ phí Tòa án sẽ được xác định theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.
Khác với cách xác định án phí nêu trên, phí trọng tài được áp dụng căn cứ theo biểu phí của từng Trung tâm trọng tài và trên cơ sở giá trị tranh chấp. Vì vậy, phí trọng tài có thể cao hơn đáng kể so với án phí tại Tòa án, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp lớn hoặc phức tạp.
Do tính chất linh hoạt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thương nhân và đặc trưng bởi tính chung thẩm, quy trình giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài được rút ngắn so với thủ tục tố tụng tại Tòa án, phù hợp với tính chất các tranh chấp kinh doanh thương mại.
6. Ngôn ngữ sử dụng
Điều 20 Bộ luật dận sự 2015 quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự tại Tòa án bắt buộc là tiếng Việt.
Trong khi đó tại Điều 10 Luật trọng tài Thương mại 2010 quy định linh hoạt hơn về Ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài:
- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định.
7. Tính bảo mật giải quyết tranh chấp
Căn cứ theo khoản 4 Điều 4 Luật trọng tài thương mại 2010 có quy định “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Nguyên tắc này được xây dựng phù hợp với tính chất của các chủ thể là thương nhân trong tranh chấp trọng tài thương mại, giúp đảm bảo tínhbảo mật, bảo vệ uy tín, danh tiếng của doanh , góp phần tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Trong khi đó, tố tụng tại Tòa án được tiến hànhtheo nguyên tắc xét xử công khai (Điều 15 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015). Điều này là để đảm bảo chế độ xét xử tại Tòa án là minh bạch đảm bảo hoạt động tố tụng của Tòa án tuân thủ thời hạn quy định, ngoài ra nguyên tắc xét xử công khai tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát hoạt động xét xử, qua đó nâng cao ý thức phòng chống tội phạm và đấu tranh với các hành vi phạm pháp luật.
Thời gian viết bài: 14/07/2025
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
