Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 (“Luật 2025”) đã chính thức thay thế các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 (“Luật 2014”). Theo đó một số quy định tại Luật 2014 đã được chi tiết hóa tại Luật 2025 tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm cũng như quyền hạn trên thực tế thay vì duy trì cơ chế xin cho cho một số vấn đề mà pháp luật có quy định nhưng không có sự rõ ràng, dẫn đến lúng túng khi thực hiện. Để rõ hơn, bài viết dưới đây sẽ chia sẻ các điểm thay đổi nổi bật giữa Luật cũ và mới.

1. Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
Theo Luật 69/2014/QH13, cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước chỉ được quy định khái quát là “cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu”, tức chưa xác định cụ thể. Luật 2025 đã thay đổi rõ rệt khi liệt kê cụ thể: gồm (a) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức được Chính phủ giao; và (b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được Chính phủ giao. Điểm mới này chuyển từ cơ chế “giao việc mở” sang “danh mục đóng”, giúp chấm dứt tình trạng mơ hồ, tăng minh bạch và gắn trách nhiệm pháp lý cụ thể.
2. Khái niệm “đầu tư vốn nhà nước”
Theo quy định cũ, “đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp”. Luật 2025 đã mở rộng khái niệm thành: “Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp”. Với sự mở rộng này thì nguồn vốn nhà nước sẽ được hiểu rộng rãi hơn mà không giới hạn tại ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý, điều này cũng sẽ thúc đẩy sự mạnh dạn của các doanh nghiệp nhà nước trong việc đầu tư, thúc đây kinh tế nhà nước phát triển. Tuy nhiên về phía doanh nghiệp cũng sẽ cần có quy chế để quản lý các nguồn vốn, cách thức xác định định – định giá tài sản được sử dụng để cho mục tiêu đầu tư, để tạo ra sự minh bạch và cũng để đảm bảo được rằng các cá nhân đại diện phần vốn đang thực hiện đúng vai trò của mình, đảm bảm tính toàn vẹn về nguồn vốn nhà nước.
3. Hình thức đầu tư vốn nhà nước
Luật 2014 quy định bốn hình thức: thành lập doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp; đầu tư bổ sung để duy trì tỷ lệ vốn góp tại công ty; và mua lại doanh nghiệp. Luật 2025 (Điều 10) quy định năm hình thức, bổ sung thêm “đầu tư để góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp chưa có vốn nhà nước”. Như vậy, từ chỗ Nhà nước chỉ đầu tư vào doanh nghiệp hiện hữu hoặc đang nắm giữ vốn, luật mới đã mở rộng sang vai trò nhà đầu tư chủ động tham gia thị trường. Như vậy sau thời gian chuyển cổ phần hóa trước đây thì với cơ chế mới doanh nghiệp nhà nước sẽ chính thức tham gia thị trường để chọn “mặt gửi vàng” tại những doanh nghiệp có ngành nghề, lĩnh vực thuộc thế đối trọng trước giờ của các công ty nhà nước. Điều này cũng dự báo trước nhiều biến động cũng như sự cạnh tranh giữa các nhóm doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, liệu điều này có tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân trong một số lĩnh vực nhất định hay không?
4. Điều kiện thành lập doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Theo quy định của Luật 2014, Nhà nước chỉ thành lập doanh nghiệp trong các lĩnh vực: công ích thiết yếu, quốc phòng – an ninh, độc quyền tự nhiên, công nghệ cao. Luật 2025 (Điều 12) mở rộng thêm các trường hợp như: phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia; và các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế. Điểm mới là phạm vi được mở rộng gắn trực tiếp với chiến lược phát triển bền vững, hạ tầng quốc gia và chuyển đổi số. Sự thay đổi này trên thực tế ít nhiều cũng tạo ra sức ép về cạnh tranh cho khối doanh nghiệp tư nhân trong cùng lĩnh vực.
5. Phân phối lợi nhuận sau thuế
Luật cũ (Điều 34) giới hạn mức trích tối đa 30% lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp cho đầu tư phát triển, còn lại nộp ngân sách nhà nước sau khi lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi. Luật 2025 (Điều 25) cho phép trích không quá 50% vào Quỹ đầu tư phát triển; bổ sung cơ chế đặc thù cho doanh nghiệp quốc phòng, an ninh và các tổ chức tín dụng. Điểm mới là tăng mức giữ lại và đa dạng hóa hình thức phân phối. Quy định này tạo nguồn tài chính để doanh nghiệp nhà nước có nguồn lực tái đầu tư trong bối cảnh quy định mới đang tạo ra nhiều cơ hội hơn để thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước không chỉ quản lý tốt nguồn vốn hiện tại, mà mạnh dạn thực hiện các hoạt động đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng theo quy định mới lợi nhuận dùng làm căn cứ để trích là mức lợi nhuận sau thuế và sau khi chia lãi cho các thành viên góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có) và sau khi bù đắp lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có) thì được sử dụng để xử lý các chi phí sau đây:
- Chi phí được xử lý từ nguồn lợi nhuận sau thuế theo quy định của các luật có liên quan;
- Chi phí khảo sát, thăm dò khoáng sản cho mục đích đầu tư nhưng không đủ điều kiện triển khai dự án theo quy định của Chính phủ; chi phí đầu tư thất bại tại các dự án đầu tư, khoản đầu tư có tính đặc thù, rủi ro cao theo quy định của Chính phủ;
- Chi phí thực hiện nhiệm vụ chính trị do cơ quan có thẩm quyền giao theo quy định của Chính phủ.
Lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi xử lý các nội dung chi trên sẽ được trích không quá 50% vào Quỹ Đầu tư phát triển để sử dụng vào mục đích đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bổ sung vốn điều lệ. Đối với các tổ chức tín dụng, trích không quá 50% vào Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và Quỹ Đầu tư phát triển theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; Trích không quá 03 tháng lương thực hiện để lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.
Riêng các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, trường hợp không đủ nguồn từ lợi nhuận sau thuế thì được Nhà nước hỗ trợ để trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không quá 02 tháng lương thực hiện trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại doanh nghiệp.
6. Sự hiện diện của Kiểm soát viên
Luật 2014 hiện chỉ quy định vai trò của Kiểm soát viên trong doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và quy định chung chung về các vấn đề tiêu chuẩn, điều kiện, chế độ làm việc, quyền, trách nhiệm của Kiểm soát viên, tiền lương, thù lao, tiền thưởng, về phạm vi trách nhiệm sẽ theo pháp luật doanh nghiệp để áp dụng. Tuy nhiên, qua Luật 2025 thì Kiểm soát viên sẽ hiện tại các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữu trên 50% vốn. Bên cạnh đó tiêu chuẩn, điều kiện, chế độ làm việc, quyền, trách nhiệm của Kiểm soát viên thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quy định khác của pháp luật có liên quan và quy chế hoạt động của Kiểm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu ban hành. Như vậy với quy định mới thì các doanh nghiệp nhà nước sẽ cần lưu ý đến việc xây dựng quy chế hoạt động của Kiểm soát viên trên cơ sở vừa đảm bảo tuân thủ theo quy định pháp luật doanh nghiệp nhưng cũng đúng theo các quy chế, quy định riêng liên quan đến quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước.
Bên cạnh những điểm thay đổi nội bật nêu trên thì Luật 2025 cũng đưa ra một “lộ trình thời gian” cho một số doanh nghiệp để áp dụng quy định pháp luật mới, theo đó doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước phải rà soát, ban hành hoặc sửa đổi điều lệ, quy chế tài chính, quy chế nội bộ bảo đảm phù hợp trước ngày 31/12/2026; trong thời gian chưa hoàn thành, được áp dụng quy định cũ nếu không trái luật và áp dụng quy định mới nếu thuận lợi hơn. Đây là điểm mới quan trọng khi đưa ra lộ trình bắt buộc, khác với các giai đoạn trước thường chỉ nêu hiệu lực chung mà thiếu hạn chót cụ thể.
Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025 đã có nhiều đổi mới: từ việc xác định rõ cơ quan đại diện, mở rộng phạm vi và hình thức đầu tư, tăng quyền tự chủ nhưng siết chặt trách nhiệm, đến cơ chế giám sát – giải trình. Những thay đổi này cho thấy định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, minh bạch hóa quản lý và thúc đẩy vai trò của Nhà nước như một nhà đầu tư chiến lược. Tuy nhiên, để luật đi vào thực tiễn, điều quan trọng không chỉ nằm ở quy định mà còn ở cơ chế thực thi, giám sát và năng lực quản trị của cả cơ quan đại diện lẫn doanh nghiệp.
Thời gian viết bài: 27/08/2025
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
- Luật quảng cáo mới của việt nam (Luật số 75/2025/QH15)
- Hướng dẫn thực hiện thủ tục chấm dứt dự án đầu tư và giải thể doanh nghiệp
- Điểm tin 6 cập nhật pháp lý quan trọng vừa qua
- Quyền của doanh nghiệp nước ngoài trong việc nhập khẩu thuốc, dụng cụ thú y và phân phối tại Việt Nam
