Điểm mới của Nghị định 239/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu Tư (Phần 1)

Trong bối cảnh chuyển đổi số của Chính phủ và cùng với đó là sự ra đời của hàng hoạt các văn bản pháp lý gần đây đã đặt ra cho doanh nghiệp nhiều thách thức về việc phải cập nhật liên tục các thay đổi về chính sách, để cho mục đích đạt được sự tuân thủ mà pháp luật đặt ra cho mỗi doanh nghiệp. Những thách thức này không chỉ cho các doanh nghiệp trong nước mà bên cạnh đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, điển hình gần đây là việc Chính phủ ban hành Nghị định 239/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu Tư, bài viết dưới đây của CDLAF sẽ chia sẻ rõ hơn về những điểm mới của NĐ 239 cho trường hợp doanh nghiệp có quy mô hoạt động không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, và chúng tôi cũng mong rằng sẽ giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về tính linh hoạt và chặt chẽ của pháp luật Việt Nam.

Source: pexels-weekendplayer-187041

1. Bổ sung giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử trong thủ tục đầu tư

Một trong những thay đổi đáng chú ý của Nghị định 239/2025/NĐ-CP là nếu như trước đây bộ hồ sơ do nhà đầu tư hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập để phục vụ việc cấp, điều chỉnh quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thì nay, Nghị định 239 đã bổ sung thêm cả hình thức “bản điện tử của hồ sơ”. Điều này đồng nghĩa với việc hồ sơ điện tử đã được công nhận giá trị pháp lý tương đương hồ sơ giấy trong toàn bộ quá trình xử lý thủ tục đầu tư. Sự thay đổi này là điều hợp lý trong bối cảnh Chính phủ đang từng bước tiến hành các bước cần thiết để thực hiện việc chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về đầu tư, cũng như cho mục đích hiện đại hóa dịch vụ công, tạo sự linh hoạt hơn cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ.

Doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng, bản điện tử của hồ sơ phải được ký số theo đúng quy định pháp luật về giao dịch điện tử và có giá trị pháp lý tương đương với hồ sơ giấy. Đồng thời, Nghị định cũng nhấn mạnh nguyên tắc: nếu có sự sai lệch giữa hồ sơ bản giấy và hồ sơ điện tử, thì nội dung hồ sơ bản giấy sẽ được ưu tiên công nhận.

Điểm bổ sung này không chỉ tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho việc số hóa quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ đầu tư, mà còn đặt trách nhiệm trực tiếp lên vai nhà đầu tư: đảm bảo tính chính xác, thống nhất và đầy đủ của cả hai loại hồ sơ. Song song, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính và cơ quan đăng ký đầu tư) có nghĩa vụ công khai địa chỉ, hình thức tiếp nhận hồ sơ điện tử trên các cổng thông tin chính thức, qua đó bảo đảm tính minh bạch và khả năng truy cập của doanh nghiệp.

Ngoài ra, Nghị định 239 cũng mở rộng quyền lựa chọn cho nhà đầu tư thông qua Khoản 1b: họ có thể nộp hồ sơ trực tiếp, trực tuyến hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích, tùy theo quy định tiếp nhận của từng thủ tục hành chính. Sự linh hoạt này giúp doanh nghiệp – đặc biệt là các tập đoàn FDI có nhiều dự án trên nhiều địa phương – giảm thiểu chi phí đi lại và rút ngắn thời gian xử lý.

2. Xác định thời hạn hoạt động dự án khi chậm bàn giao đất

Nghị định 239/2025/NĐ-CP đã bổ sung khoản 1a và 1b vào Điều 27, nhằm giải quyết tình huống thực tiễn khá phổ biến: dự án đầu tư được quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng việc bàn giao đất trên thực địa bị chậm trễ.

Theo quy định mới, trong trường hợp này, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Thời hạn hoạt động và tiến độ thực hiện của dự án sẽ được xác định trực tiếp theo thời gian ghi tại quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất hoặc văn bản bàn giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một bước tiến đáng kể, bởi trước đây nhà đầu tư thường rơi vào tình trạng thủ tục kéo dài, phải điều chỉnh giấy tờ nhiều lần chỉ để khớp với thực tế bàn giao đất.

Đồng thời, Nghị định cũng tạo sự linh hoạt: nếu nhà đầu tư có nhu cầu cập nhật thông tin về thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) hoặc quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, họ vẫn có thể tiến hành thủ tục điều chỉnh theo quy định chi tiết tại Điều 45, 46 và 47. Điều này vừa bảo đảm quyền lợi, vừa duy trì tính chính xác của hồ sơ pháp lý khi doanh nghiệp mong muốn cập nhật.

Về ý nghĩa, thay đổi này giúp giảm gánh nặng hành chính và tránh việc “trễ tiến độ kép” – tức là vừa chậm bàn giao đất vừa mất thời gian điều chỉnh thủ tục. Đối với các dự án lớn trong lĩnh vực hạ tầng, công nghiệp hoặc FDI, quy định mới sẽ tạo sự ổn định pháp lý và hạn chế rủi ro dự án bị đánh giá vi phạm tiến độ do nguyên nhân khách quan.

Tuy nhiên, từ góc độ quản trị, doanh nghiệp vẫn cần lưu ý hai vấn đề. Thứ nhất, mặc dù không bắt buộc điều chỉnh GCNĐKĐT, nhưng nếu dự án có sự tham gia của nhiều bên (đối tác liên doanh, nhà tài trợ vốn, ngân hàng), việc cập nhật thông tin pháp lý chính thức vẫn có thể cần thiết để bảo đảm tính minh bạch trong giao dịch. Thứ hai, việc lưu giữ và quản lý văn bản bàn giao đất trở nên cực kỳ quan trọng, bởi đây sẽ là căn cứ pháp lý xác định thời hạn hoạt động và tiến độ dự án.

Ở góc độ tư vấn, CDLAF khuyến nghị nhà đầu tư:

Chủ động làm việc với cơ quan có thẩm quyền để sớm nhận văn bản bàn giao đất rõ ràng, có ngày tháng cụ thể.

Đánh giá nhu cầu nội bộ và yêu cầu từ đối tác tài chính để quyết định có nên thực hiện điều chỉnh GCNĐKĐT hay không.

Thiết lập hệ thống theo dõi tiến độ dự án gắn với thời điểm bàn giao đất, tránh rủi ro bị cơ quan quản lý kết luận chậm tiến độ do thiếu minh chứng.

3. Mở rộng thẩm quyền cấp GCNĐKĐT và bổ sung khu công nghệ số tập trung

Nghị định 239/2025/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 34 nhằm cập nhật và mở rộng phạm vi thẩm quyền của Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế. Cụ thể, tại điểm a khoản 3, bên cạnh các dự án xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, nay còn bao gồm cả “khu công nghệ số tập trung”. Đây là một điểm nhấn quan trọng, bởi nó thể hiện định hướng chính sách rõ ràng của Chính phủ trong việc thúc đẩy các trung tâm công nghệ số – hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế số và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào lĩnh vực công nghệ.

Không chỉ dừng lại ở việc bổ sung phạm vi, Nghị định còn quy định thêm khoản 3a: trong trường hợp thay đổi địa điểm thực hiện dự án đầu tư, thẩm quyền cấp, điều chỉnh hoặc thu hồi GCNĐKĐT thuộc về Sở Tài chính hoặc Ban quản lý khu công nghiệp/khu chế xuất/khu công nghệ cao/khu kinh tế nơi dự án được chuyển đến. Như vậy quy định bổ sung đang tạo ra cơ chế linh hoạt cho doanh nghiệp, tuy nhiên về phía doanh nghiệp cũng sẽ cần lường trước một số khác biệt về cách thức làm việc giữa 2 cơ quan quản lý, để từ đó dự phòng được thời gian cần có để hoàn tất thủ tục, tránh việc doanh nghiệp không nắm rõ quy trình làm việc dẫn đến một số rủi ro như dự án đã hết hạn nhưng doanh nghiệp lại chưa hoàn tất quá trình gia hạn.

4. Rút ngắn thời hạn cấp GCNĐKĐT xuống còn 10 ngày

Điều 36 của Nghị định 31/2021/NĐ-CP quy định nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ theo Điều 33 Luật Đầu tư, và trong trường hợp dự án thực hiện tại từ hai tỉnh trở lên thì hồ sơ sẽ nộp cho Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi dự án đặt hoặc dự kiến đặt văn phòng điều hành. Cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm cấp GCNĐKĐT trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Nghị định 239/2025/NĐ-CP đã có hai thay đổi quan trọng: (i) Dẫn chiếu về thành phần hồ sơ: thay vì quy định theo Điều 33 Luật Đầu tư, nay hồ sơ được xác định theo khoản 1 Điều 31 của Nghị định 31/2021/NĐ-CP. Việc dẫn chiếu này tạo tính thống nhất, tránh cách hiểu khác nhau khi áp dụng, (ii) Rút ngắn thời hạn xử lý hồ sơ: từ 15 ngày xuống còn 10 ngày làm việc. Đây là tín hiệu mạnh mẽ cho thấy nỗ lực cải cách hành chính, cắt giảm thời gian cho doanh nghiệp trong thủ tục đầu tư. Đây được xem là nỗ lực của Chính phủ trong cuộc cải cách hành chính lớn hiện nay, tuy nhiên với sự sáp nhập cơ quan quản lý cũng như tỉnh thành hiện nay thì doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng sẽ có tình trạng tồn đọng hồ sơ, quá tải từ phía cơ quan quản lý tại giai đoạn đầu. Điều này cũng dễ hiểu bởi bất kỳ một cải cách no cũng sẽ cần có thời gian để làm quen, điều chỉnh, tuy nhiên với động thái tích cực gần đây của Chính phủ, chúng tôi tin rằng những chậm trễ khi giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp sẽ sớm được giải quyết.

Về phía doanh nghiệp, hiện nay với chính sách số hóa trong thủ tục hành chính và mọi hoạt động hầu như đã được thực hiện trực tuyến thì về phía doanh nghiệp sẽ cần: nắm rõ cách thực thực hiện hồ sơ, nội dung trình bày cần bám sát vào quy định của pháp luật, trong trường hợp cần thiết thì có thể tham vấn thêm ý kiến từ phía cơ quan quản lý.

Tham khảo thêm bài viết về Điểm mới của Nghị định 239/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu Tư (Phần 2)

Thời gian viết bài: 20/09/2025

Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF

  • Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
  • Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
  • Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
  • Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
  • Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;

Bạn có thể tham thảo thêm:

    GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN