Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, hoạt động giao dịch bằng ngoại tệ ngày càng trở nên phổ biến trong doanh nghiệp – đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các tập đoàn đa quốc gia, hay những doanh nghiệp Việt Nam có quan hệ xuất nhập khẩu, vay vốn, chuyển giao công nghệ với đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn duy trì nguyên tắc quản lý chặt chẽ hoạt động ngoại hối, nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ quốc gia, kiểm soát dòng vốn và ngăn ngừa rủi ro rửa tiền, chuyển giá. Câu hỏi đặt ra là: Doanh nghiệp có được phép thanh toán, ký hợp đồng hoặc thực hiện các nghĩa vụ bằng ngoại tệ trong lãnh thổ Việt Nam hay không? Và nếu có, những trường hợp nào được pháp luật cho phép – còn những trường hợp nào sẽ bị xem là vi phạm quy định về quản lý ngoại hối?
Bài viết dưới đây sẽ trả lời những câu hỏi nêu trên cũng như chia sẻ quan điểm giải quyết của cơ quan tố tụng trong các tranh chấp liên quan đến khoản lợi ích phát sinh từ việc sử dụng ngoại tệ là đồng tiền giao dịch.

1. Doanh nghiệp có được tự do sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam?
Doanh nghiệp không được quyền tự do sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền để giao dịch bao gồm định giá, đơn giá, quy đổi, thanh toán… trong các hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Doanh nghiệp sẽ được quyền sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền giao dịch trong một số trường hợp mà pháp luật cho phép, quy định này cũng áp dụng cho cả các cá nhân. Được hiểu rằng, ngay cả khi bạn là cá nhân thì bạn cũng chịu sự chi phối bởi quy định hạn chế sử dụng ngoại tệ như đề cập ở trên, không có sự khác biệt giữa việc bạn là cá nhân hay tổ chức, bạn có đăng ký kinh doanh hay không.
Tuy nhiên, điều khiến cho nhiều cá nhân, doanh nghiệp nhầm tưởng hiện nay đó là chúng ta nhìn thấy trên thị trường có rất nhiều các giao dịch, ghi nhận đơn giá, hợp đồng bằng USD một cách công khai, và dẫn đến sự hiểu nhầm rằng việc sử dụng ngoại tệ là được phép hay được xem như một sự “ngầm thừa nhận”.
2. Các trường hợp được sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam
Như đã đề cập ở trên, không phải khi nào cá nhân, tổ chức cũng được sử dụng ngoại tệ, ngoại trừ một số cơ quan nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối, thì việc sử dụng ngoại hối phải thuộc vào một trong các trường hợp dưới đây:
- Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.
- Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Người cư trú thực hiện hợp đồng ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu, cụ thể: Người cư trú nhận ủy thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác nhập khẩu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu từ bên ủy thác nhập khẩu; Người cư trú nhận ủy thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác xuất khẩu bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng xuất khẩu cho bên ủy thác xuất khẩu.
- Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài thực hiện sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam như sau: Đối với chi phí ngoài nước liên quan đến việc thực hiện gói thầu thông qua đấu thầu quốc tế theo quy định tại Luật Đấu thầu: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài; Đối với việc thực hiện gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.
- Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng ngoại hối khi: báo giá, định giá, ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa, dịch vụ phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài; Trường hợp phát sinh tổn thất đối với phần tái bảo hiểm ra nước ngoài, người cư trú là tổ chức mua bảo hiểm được nhận số tiền bồi thường bằng ngoại tệ chuyển khoản từ công ty tái bảo hiểm nước ngoài thông qua doanh nghiệp bảo hiểm để thanh toán các chi phí khắc phục tổn thất ở nước ngoài.
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa. Ngoại tệ sử dụng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.
- Người cư trú là tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
- Người cư trú là tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết giữa hai bên thì: Được thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với cước phí vận tải hàng hóa quốc tế. Việc thanh toán phải thực hiện bằng đồng Việt Nam; Được chi hộ bằng ngoại tệ chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly tại sân bay quốc tế; Được chi hộ bằng ngoại tệ tiền mặt để trả lương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú do hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền.
- Người cư trú là doanh nghiệp chế xuất sử dụng ngoại hối trong các trường hợp: Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu. Doanh nghiệp trong nước được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất; Được báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán, nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản với doanh nghiệp chế xuất khác.
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ) chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.
- Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.
- Người không cư trú ( không đáp ứng điều kiện để xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam ví dụ như doanh nghiệp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoai), sẽ được quyền sử dụng ngoại tệ trong các trường hợp:
- Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;
- Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.
- Nhà đầu tư nước ngoài được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ chuyển khoản khi tham gia đấu giá trong các trường hợp sau: (i)Mua cổ phần tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; (ii) Mua cổ phần, phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; (iii) Mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3. Thỏa thuận về giá trị chênh lệch ngoại hối có được thừa nhận
Trong một số trường hợp, để đảm bảo lợi ích kinh tế, một số doanh nghiệp lựa chọn việc xác lập ngầm một số thỏa thuận để dự phòng khi có biến động về tỷ giá ngoại tệ thì quyền lợi của doanh nghiệp sẽ không bị ảnh hưởng. Đứng trên khía cạnh hội nhập kinh tế hiện nay, khi mà các hoạt động kinh tế đang bị ảnh hưởng bởi sự lên xuống của đồng tiền ngoại tệ, chính vì vậy nhiều doanh nghiệp lựa chọn cách thức ghi nhận này, và được xem như một thỏa thuận riêng không công khai của các bên.
Tuy nhiên, trên thực tế không loại trừ việc các bên thực hiện giao dịch không thuận lợi, chính điều đó đã dẫn đến những mâu thuẫn, tranh chấp. Trong trường hợp này một trong các bên thường sẽ yêu cầu cơ quan tố tụng chấp nhận yêu cầu liên quan đến khoản tiền chênh lệch khi tính đơn giá giao dịch là ngoại tệ, hoặc yêu cầu Tòa án chấp nhận giá trị thấp hơn giá trị giao dịch các bên ghi nhận trên Hợp đồng nếu đồng tiền ngoại tệ bị suy giảm. Thỏa thuận về sử dụng ngoại hối nếu không thuộc các trường hợp được phép như nêu tại mục 2 ở trên thì sẽ không có căn cứ để chấp nhận, hay nói cách khác phần thỏa thuận sử dụng ngoại tệ sẽ bị xem là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể là không được phép sử dụng ngoại hối.
Như vậy, doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng ngoại tệ trong những trường hợp đặc thù được Ngân hàng Nhà nước cho phép, và phải thực hiện thông qua tài khoản ngoại tệ hợp pháp tại tổ chức tín dụng được cấp phép. Việc thanh toán, niêm yết giá, hoặc ký hợp đồng bằng ngoại tệ trong các giao dịch nội địa mà không thuộc các trường hợp ngoại lệ sẽ bị xem là vi phạm pháp luật về quản lý ngoại hối, có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng, kể cả bị xử phạt hành chính hoặc bị tuyên hợp đồng vô hiệu.
Thời gian viết bài: 25/10/2025
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
- Bàn luận về hình thức góp vốn bằng kinh nghiệm quản lý trong doanh nghiệp
- Tại sao doanh nghiệp phải bảo vệ thông tin cá nhân người lao động?
- Phân tích vai trò và trách nhiệm của các bên trong hoạt động xử lý dữ liệu theo pháp luật Việt Nam
- Dữ liệu nhạy cảm: Những gì doanh nghiệp bạn đang xử lý mà chưa biết
