Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tích hợp sâu vào hệ thống thuế quốc tế, việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTA/DTTs) trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất khi rà soát các điều khoản thanh toán trong hợp đồng thương mại, dịch vụ xuyên biên giới hoặc giao dịch liên kết. Sai sót trong việc xác định nghĩa vụ thuế nhà thầu, thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), hay chứng minh cư trú thuế của đối tác nước ngoài có thể khiến doanh nghiệp đối mặt với các rủi ro lớn: bị truy thu, phạt chậm nộp, bác bỏ chi phí hợp lệ, hoặc bị đánh giá không tuân thủ trong kiểm tra thuế.
Trong thực tiễn tư vấn cho doanh nghiệp FDI và các tập đoàn đa quốc gia, một trong những điểm yếu phổ biến nhất nằm ở việc áp dụng DTA không đồng bộ với điều khoản thanh toán trong hợp đồng. Nhiều doanh nghiệp chỉ xem xét hiệp định ở giai đoạn quyết toán thuế, trong khi đáng lẽ DTA phải được xem xét ngay từ lúc đàm phán, soạn thảo và phê duyệt điều khoản thanh toán. Chính việc hiểu sai hoặc áp dụng thiếu sót trong giai đoạn này dẫn đến hệ quả pháp lý – thuế nặng nề về sau.
Bài viết này cung cấp hướng dẫn chung, có hệ thống và thực tiễn về cách áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần khi rà soát điều khoản thanh toán, giúp nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI tối ưu thuế, tuân thủ pháp luật Việt Nam và giảm thiểu rủi ro trong giao dịch xuyên biên giới.

1. Thuế nhà thầu
Thuế nhà thầu là một trong những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện giao dịch thương mại quốc tế. Một trong những giao dịch có khả năng phát sinh thuế nhà thầu cho đối tác nước ngoài mà doanh nghiệp cần lưu ý như: Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có yếu tố nước ngoài, Hợp đồng thi công xây dựng nơi địa điểm thi công tại Việt Nam, Hợp đồng cho thuê máy móc, thiết bị tại Việt Nam,….
Thực tế việc phát sinh số thuế phải nộp tại Việt Nam sẽ làm tăng chi phí giao dịch vũng như làm giảm những khoản lợi có được từ giao dịch tại Việt Nam của các thương nhân nước ngoài, vì vậy việc Việt Nam tham gia các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (“Hiệp định”) nhằm mục đích loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: (a) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc (b) khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam.
Dựa trên những lợi thế có được từ chính sách ngoại giao của chỉnh phủ Việt Nam và các quốc gia trên thế giới mang lại, các công ty và cá nhân cũng cần lưu ý để áp dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là thỏa thuận những điều khoản thanh toán phù hợp với pháp luật và Điều ước quốc tế giữa các bên.
Một số lưu ý CDLAF đề cập đến các vấn đề mà các doanh nghiệp, cá nhân cần quan tâm như sau:
Thứ nhất, xác định nhà thầu nước ngoài có cơ sở thường trú hay không. Hiện tại tùy thuộc theo từng Hiệp định có thể đưa ra định nghĩa về cơ sở thường trú riêng, tuy nhiên căn cứ theo Điều 1 Thông tư 205/2013/TT-BTC quy định đối tượng cư trú có thể được hiểu như sau:
Theo Hiệp định, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” là đối tượng mà theo luật của một Nước ký kết là đối tượng chịu thuế tại nước đó do:
Có nhà ở, có thời gian cư trú tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân; hoặc đối với tổ chức là có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một tổ chức;
Theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, các đối tượng sau đây được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam:
Đối với cá nhân:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
- Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam;
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.
Đối với tổ chức: thành lập và hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam.
Ngoài ra, đa số các Hiệp định có thể xác định một địa điểm thi công, cung cấp dịch vụ nhất định là cơ sở thường trú ví dụ: Một địa điểm xây dựng, công trình xây dựng hoặc lắp đặt sẽ tạo nên một cơ sở thường trú chỉ khi địa điểm hay công trình đó kéo dài hơn 6 tháng (Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế đánh vào thu nhập).
Việc xác định đối tác nước ngoài có cơ sở thường trú hay không sẽ dẫn đến trường hợp phân định tránh nhiệm nộp thuế của các bên trong Hợp đồng. Trường hợp đối tác nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì cơ sở thường trú đó có trách nhiệm kê khai và nộp thuế, nếu đối tác không có cơ sở thường trú thì doanh nghiệp bên trong giao dịch có trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thay cho đối tác nước ngoài.
2. Ghi nhận giá/phí/hoa hồng trong hợp đồng
Đây là một điều khoản quan trọng và tìm ẩn nhiều rủi ro. Các bên cần làm rõ các khoản thanh toán này đã bao gồm thuế nhà thầu nước ngoài hay chưa. Đồng thời xác định cụ thể bên phải chịu khoản thuế nhà thầu này cũng như trách nhiệm kê khai nộp thuế theo quy định. Việc buông lỏng trong thỏa thuận điều khoản này sẽ dẫn đến rủi ro phải chịu chi phí ẩn cho các bên đặt biệt là doanh nghiệp Việt Nam có giao dịch với đối tác nước ngoài.
3. Trách nhiệm cung cấp các tài liệu khấu trừ tại nguồn
Theo nguyên tắc chung của các Hiệp định, bên chịu thuế nhà thầu nước ngoài tại một nước sẽ được khấu trừ số thuế phải nộp tại nước sở tại, tuy nhiên cần phải cung cấp đầy đủ các tài liệu như: Hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán, biên lai, chứng từ khấu trừ thuế, tài liệu chứng minh đã nộp thuế,… Vì vậy bên doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài cần thỏa thuận điều khoản yêu cầu bên khấu trừ cung cấp đầy đủ các tài liệu nêu trên làm cơ sở khấu trừ thuế.
Nếu như Hợp đồng xác lập giữa các bên thuộc trường hợp được miễn, giảm thuế theo Hiệp định, các bên phải thỏa thuận cụ thể bên phải thực hiện thủ tục miễn, giảm thuế cho nhà thầu nước ngoài. Thành phần hồ sơ và thủ tục miễn giảm thuế được quy định theo Điều 62 Thông tư 80/2021/TT-BTC.
Mặc dù vậy, cần lưu ý trong trường hợp này là việc miễn, giảm thuế sẽ chỉ được thực hiện khi được cơ quan thuế chấp nhận. Vì vậy các bên nên thỏa thuận theo hướng trường hợp có quan thuế có quyết định khác, một hoặc các bên có quyền yêu cầu đàm phán lại các điều khoản thanh toán để đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng.
Thời gian viết bài: 11/11/2025
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
- Thủ tục xử lý khi chậm góp vốn đầu tư
- Các vấn đề pháp lý phát sinh khi chậm thực hiện gia hạn hoạt động dự án đầu tư
- Nhà đầu tư nước ngoài và cách thức để thành lập công ty công nghệ tại Việt Nam (Phần 2)
- Nhà đầu tư nước ngoài và cách thức để thành lập công ty công nghệ tại Việt Nam (Phần 1)
