Không tuân thủ quy định BHXH tại Việt Nam: Rủi ro pháp lý đối với doanh nghiệp FDI

Từ việc chậm đăng ký tham gia BHXH, đóng sai mức lương căn cứ, cho đến trốn đóng hoặc không đóng cho nhân viên hợp đồng ngắn hạn, mỗi hành vi đều có thể bị xử phạt, truy thu và tính lãi chậm đóng lên tới 0,03% mỗi ngày, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín pháp lý và khả năng được cấp phép hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam. Với Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực tháng 7.2025 và hệ thống nghị định hướng dẫn mới đặc biệt là Nghị định 274/2025/NĐ-CP được ban hành ngày 16.10.2025, đã đặt ra các quy định một cách rõ ràng để điều chỉnh các trường hợp doanh nghiệp chậm hay trốn thực hiện nghĩa vụ BHXH, BHTN. Doanh nghiệp nước ngoài vì vậy cần chủ động rà soát, đánh giá và thiết lập cơ chế tuân thủ toàn diện – không chỉ để tránh rủi ro pháp lý, mà còn để xây dựng hình ảnh nhà tuyển dụng chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm tại Việt Nam. Bài viết dưới đây chúng tôi sẽ thông tin các rủi ro liên quan đến nghĩa vụ phạt do không thực hiện đúng quy định BHXH.

Source: pexels-leeloothefirst-7163953

 

1. Hướng dẫn xác định số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Để xác định doanh nghiệp có đang rơi vài tình trạng chậm đóng BHXH hay không, và xác định chính xác số tiền chậm đóng thì doanh nghiệp nước ngoài sẽ cần đánh giá được từng trường hợp mà công ty đang có nguy cơ bị vị phạm, cụ thể:

  • Với trường hợp doanh nghiệp đã đăng ký BHXH cho người lao động nhưng chậm đóng tiền BHXH theo từng tháng, quý thì số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp theo từng kỳ mà doanh nghiệp đã đăng ký áp dụng. Đối với tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng, được hiểu là số tiền thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp phải đóng theo đăng ký sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất quy định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
  • Đối với trường hợp doanh nghiệp: (i) không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn; hoặc (ii) không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

Trong 2 trường hợp này thì số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng được hiểu là: số tiền thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội trong thời hạn luật quy định; số tiền bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động chưa được đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

  • Đối với doanh nghiệp trễ đăng ký BHXH, BHTN cho người lao động trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày đến hạn, tuy nhiên không thuộc trường hợp bị xem là trốn đóng BHXH , BHTN số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng là số tiền mà doanh nghiệp phải đóng cho người lao động trong thời gian chưa tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

Theo đó các trường hợp không bị xem là trốn đóng BHXH, BHTN được hiểu là các trường hợp doanh nghiệp không thực hiện được nghĩa vụ tương ứng do một trong các lý do thuộc về sự kiện khách quan, bất khả kháng như: Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn…, Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, các sự kiện bất khả kháng, và điều quan trọng là các sự kiện nêu trên phải có ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ, được cơ quan nhà nước công bố liên quan đến thiên tai, tình trạng khẩn cấp …

2. Xác định số tiền, số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Chậm thực hiện nghĩa vụ BHXH, BHTN sẽ được hiểu là doanh nghiệp chậm kê khai theo hạn, chậm đóng tiền nhưng mức kê khai nộp là không có dấu hiệu gian dối để làm giảm đi nghĩa vụ phải thực hiện của doanh nghiệp. Tuy nhiên với việc doanh nghiệp kê khai không chính xác thực tế phát sinh về tiền lương, các khoản liên quan khi làm cơ sở tính tiền BHXH, BHTN, kê khai không đúng mối quan hệ được xác lập giữa doanh nghiệp và người lao động, sẽ được hiểu là doanh nghiệp đang có hành vi trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ Số tiền, số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:

Số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sẽ được xác định khi doanh nghiệp thuộc vào các trường hợp:

Quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký kê khai BHXH, BHTN cho người lao động nhưng doanh nghiệp không thực hiện, trong trường hợp này số tiền phải thanh toán sau thời gian 60 ngày được xem là khoản tiền mà doanh nghiệp đang có hành vi trốn đóng mà không xem là chậm đóng.

Doanh nghiệp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn mức đóng theo quy định. Tuy nhiên doanh nghiệp cần biết rằng, mức đóng theo quy định được nhắc đến ở đây sẽ được hiểu là : tiền lương tháng đã bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp sẽ được xác định như sau:

Số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ ngày sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất theo quy định.

  • Đối với trường hợp trốn đóng thông qua việc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn quy định thì đối với: phương thức đóng hàng tháng thì số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng phát sinh tiền lương đã đăng ký làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.
  • Đối với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần: số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đã đăng ký làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.
  • Đối với trường hợp trốn đóng thuộc diện không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền BHXH, BHTN sau thời hạn quy định và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc, nhắc nhở trong thời hạn 45 ngày kể từ sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất, thì số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định bắt đầu từ sau 60 ngày kể từ sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hộihoặc sau thời hạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
  • Đối với doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định sau 45 ngày kể từ sau thời hạn đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội:số ngày trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được xác định từ ngày thứ 15 kể từ ngày ban hành văn bản đôn đốc của cơ quan có thẩm quyền.

Dựa vào quy định mới nêu trên, cơ quan quản lý bảo hiểm sẽ xác định số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng, trốn đóng và số ngày chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; tính số tiền người sử dụng lao động phải nộp bằng 0,03%/ngày đối với số tiền chậm đóng, trốn đóng; thông báo với người sử dụng lao động để đối chiếu; tổ chức thu và quản lý theo quy định.

Kết luận, Tuân thủ quy định về bảo hiểm xã hội tại Việt Nam không chỉ là một nghĩa vụ hành chính đơn thuần, mà là một trụ cột trong hệ thống quản trị rủi ro nhân sự và tuân thủ pháp lý (HR & Compliance Governance) của mọi doanh nghiệp FDI. Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh số hóa và kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, lao động và bảo hiểm, các hành vi chậm đóng, trốn đóng hoặc kê khai sai mức lương làm căn cứ đóng BHXH đều có thể bị phát hiện và xử phạt nhanh chóng – với mức phạt lên tới hàng trăm triệu đồng, cộng lãi suất chậm nộp 0,03% mỗi ngày và thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp nghiêm trọng. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hệ quả của việc không tuân thủ không chỉ dừng lại ở thiệt hại tài chính, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương hiệu, khả năng được gia hạn giấy phép đầu tư và quản trị nhân sự cấp cao.

Dịch vụ tuân thủ BHXH – lao động của CDLAF hỗ trợ doanh nghiệp từ kiểm tra hồ sơ, thiết lập quy trình payroll đến đại diện làm việc với cơ quan chức năng, giúp doanh nghiệp vận hành an toàn và đúng luật tại Việt Nam.

Thời gian viết bài: 28/10/2025

Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF

  • Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
  • Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
  • Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
  • Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
  • Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;

Bạn có thể tham thảo thêm:

    GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN