Tiếp theo bài viết trước về các điều kiện mà các bên trong đó có người nước ngoài cần lưu ý khi thực hiện việc ly hôn ở Việt Nam, theo đó chúng tôi đã chia sẻ tổng quan các vấn đề cơ quan liên quan đến ly hôn, tuy nhiên với bối cảnh chỉ giải quyết vấn đề về hôn nhân mà không xem xét đến tài sản chung. Tại bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ các vấn đề về ly hôn và phân chia tài sản, bao gồm tài sản chung, đặc biệt là việc xử lý tài sản là bất động sản, vấn đề mà pháp luật vẫn còn những quy định hạn chế quyền sử dụng, quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam.

1. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Khi người nước ngoài tiến hành thủ tục ly hôn tại Việt Nam, thuận tiện nhất là hai vợ chồng đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề phát sinh từ quan hệ hôn nhân: tình cảm, con cái, tài sản, nợ… Phía Tòa án chỉ cần ghi nhận lại sự thỏa thuận và ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Vấn đề Tài sản, các bên có thể tự thoả thuận ngoài Toà án trường hợp để đảm bảo cho việc thực hiện cam kết cả các bên thì Vợ chồng cũng có thể đề nghị toà án ghi nhận sự thoả thuận hoặc giải quyết phân chia theo quy định. Về quy định thì hiện tại khi giải quyết các vấn đề tài sản chung của vợ chồng, các bên sẽ cần lưu ý các điểm quan trọng sau:
Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định: việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân gia đình và Bộ Luật dân sự.
Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận: việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định Luật hôn nhân gia đình và Bộ Luật dân sự để giải quyết.
Về nguyên tắc chung thi theo Quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân gia đình và các văn bản pháp luật liên quan, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
- Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Giải quyết tài sản chung vợ chồng trong một số trường hợp cụ thể
Trên thực tế giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, việc giải quyết tranh chấp tài sản chung vợ chồng cũng phát sinh rất nhiều vấn đề phức tạp, thường gặp nhất là liên quan đến bất động sản, đến thoả thuận tài sản vợ chồng hoặc nợ chung… dẫn đến quá trình giải quyết vụ án bị kéo dài, gây khó khăn cho Vợ chồng, đặc biệt khi một bên là Người nước ngoài, điển hình như sau:
- Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn, dù ly hôn nhưng quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba như Ngân hàng, chủ nợ, khách nợ… vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
- Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định.
- Chia tài sản là bất động sản
Hiện nay pháp luật Việt Nam không thừa nhận quyền sử dụng đất của Người nước ngoài nên trong trường hợp Vợ, chồng là người Việt Nam có tạo lập tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất thì Vợ chồng là Người nước ngoài sẽ chỉ được hưởng phần giá trị của quyền sử dụng đất đó.
Về quyền sở hữu nhà ở, Luật nhà ở đã ghi nhận quyền sở hữu nhà ở cho Người nước ngoài kết hôn với Công dân Việt Nam: “Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam.”
Trường hợp tài sản chung vợ chồng là bất động sản ở nước ngoài thì sẽ được giải quyết tại nơi có bất động sản và áp dụng phát luật của nước đó.
- Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh
Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình, vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Vấn đề đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh cũng được xác định như sau: (i) Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác, (ii)Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.
Để đảm bảo tính nhân văn, pháp luật Việt Nam cũng đã có quy định về đảm bảo quyền lợi cho người yếu thế hơn trong sở hữu tài sản chung Vợ chồng: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”
Thời gian viết bài: 27/09/2025
Bài viết ghi nhận thông tin chung có giá trị tham khảo, trường hợp bạn mong muốn nhận ý kiến pháp lý liên quan đến các vấn đề mà bạn đang vướng mắc, bạn vui lòng liên hệ với Luật sư của chúng tôi theo email info@cdlaf.vn

Vì sao chọn dịch vụ CDLAF
- Chúng tôi cung cấp đến bạn giải pháp pháp lý hiệu quả và toàn diện, giúp bạn tiết kiệm ngân sách, duy trì sự tuân thủ trong doanh nghiệp;
- Chúng tôi tiếp tục duy trì việc theo dõi vấn đề pháp lý của bạn ngay cả khi dịch vụ đã hoàn thành và cập nhật đến bạn khi có bất kỳ sự thay đổi nào từ hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Hệ thống biểu mẫu về doanh nghiệp, đầu tư được xây dựng và cập nhật liên tục sẽ cung cấp khi khách hàng yêu cầu, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục;
- Doanh nghiệp cập nhật kịp thời các chính sách và phương thức làm việc tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Đội ngũ Luật sư của CDLAF nhiều năm kinh nghiệm hoạt động tại lĩnh vực Lao động, Doanh nghiệp, Đầu tư cùng với các cố vấn nhân sự, tài chính;
- Quy trình bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ và ngay cả khi dịch vụ được hoàn thành sau đó;
Bạn có thể tham thảo thêm:
- Điều kiện và vấn đề cần lưu ý khi người nước ngoài ly hôn tại Việt Nam
- Hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng tài khoản vay và trả nợ khoản vay nước ngoài
- Khi nào thì doanh nghiệp xác lập hợp đồng vay nước ngoài ngắn hạn, hợp đồng dài hạn
- Làm sao để khoản vay nước ngoài đúng luật?
